Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014


Quá trình có bầu của bạn làm dài thêm 9 tháng 10 ngày, trong giai đoạn đó bạn phải biết toàn bộ cơ thể mình cần bổ sung gì cho chế độ dinh dưỡng để giúp em bé được phát triển một phương pháp toàn diện.


1. Tháng thứ nhất
Trong tháng đầu tiên mang bầu, bà bầu thường có cảm giác mệt mỏi, khó chịu, chán ăn, vì thế bạn cần chú ý bồi dưỡng những chất dinh dưỡng, đặc biệt là ăn nhiều loại thức ăn có chứa protein, sắt như thịt bò, thịt lợn, cá,..


Đọc thêm: uong vitamin e khi mang thai


2. Tháng thứ hai
Thời gian này, toàn bộ cơ thể thai phụ có nhiều sửa đổi như: dừng vòng kinh, đau đầu, chóng mặt, hoặc kèm theo nôn nhiều, núm vú và một số vùng xung quanh hơi có cảm giác đau. Nếu bạn nghén thì nên tranh thủ nghỉ ngơi nhiều hơn và cũng đừng quá lo lắng khi bạn chưa uống được sữa bà bầu vì hiện tại chưa cần quá nhiều những dưỡng chất quý hiếm để nuôi bào thai. Bạn có thể bồi bổ các những chất dinh dưỡng bằng cách ăn nhiều hoa quả.


Thai phụ nên ăn các loại thức ăn dễ tiêu hoá như: bánh mỳ, cháo, nước trái cây, mật ong…
3. Tháng thứ ba
Tháng thứ ba thật hoàn hảo với việc ăn canh gà trống và ăn nhiều các loại thịt, cá, trứng và một số loại đậu.


4. Tháng thứ tư
Thai phụ nên ăn làm nhiều bữa. Và lưu ý không nên nhai lệch về một bên hàm và nhai kĩ rồi mới nuốt. Không nên ăn những loại thực phẩm chứa các chất kích thích như: rượu, bia... và không hút thuốc uống lá. Nên ăn một số loại thức ăn có chứa nhiều vitamin.


Xem thêm: vitamin tong hop cua phap


- Vitamin A: Có trong trứng, sữa, tôm, cá, gan các loài động vật. Các loại rau quả có màu đậm (như rau ngót, rau muống, rau dền, rau đay, rau khoai loang, cần ta, gấc, cà rốt, bí đỏ, đu đủ, xoài, củ khoai lang nghệ...) có nhiều caroten, khi vào các bộ phân cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A.


- Vitamin B1: Có nhiều trong ngũ cốc và một số loại đậu (hạt) như gạo, bột mì, bột đậu xanh...


- Vitamin B2: Hạt ngũ cốc toàn phần, thức ăn có nguyên do động vật.


- Vitamin B6: có nhiều trong gan bê, ruốc thịt, thịt gà, ngô...


- Vitamin B9 (hay còn gọi là axit folic) có nhiều trong măng tây, rau xanh, gan, thịt gà, trứng.


- Vitamin PP: Lạc, vừng, đậu những loại, rau ngót, giá đậu xanh, cải xanh, rau dền đỏ, rau bí, thịt, cá, tôm, cua, ếch.


- Vitamin B12: Pho mát làm từ thịt dê và thịt cừu, cá, quả hạnh nhân, cải xoong, dưa bắp cải, sữa tươi, sữa bột, sữa chua, sữa đậu nành, nước khoáng...


- Vitamin C: Rau xanh (rau muống, rau ngót, bắp cải, cải xoong), quả chín (cam, chanh, bưởi, xoài, ổi...), khoai tây, khoai lang, củ cải, hành tây, ớt ngọt, rau mùi, ...



- Vitamin D: Dầu gan cá, cá, gan, lòng đỏ trứng, thịt lợn, chất béo của sữa.


- Vitamin E: Các loại dầu (dầu hướng dương, dầu lạc, dầu cọ...), rau dền, giá đậu, quả mơ, quả đào, gạo, ngô, lúa mì.


5. Tháng thứ năm
Thai ở tháng thứ 5, não bắt đầu phát triển nhanh, vì thế nếu thai phụ ăn quá nhiều thịt sẽ không tốt cho sự tiến triển não của thai nhi. Ví dụ: ăn nhiều thịt sẽ khiến các bộ phân cơ thể có nhiều axít, làm cho não của bào thai không linh hoạt; ăn quá nhiều đường trắng không có lợi cho việc phát triển tế bào ở đại não; nên chọn lựa một vài loại thức ăn thô như: bột mỳ, bột gạo.


Tham khảo: thuốc mới điều trị bệnh gout


6. Tháng thứ sáu
Thai phụ cần phòng tránh thiếu canxi và sắt.


Ở tháng thứ 6, bào thai sinh trưởng rất nhanh, vì thế trong chế độ ăn uống nên có nhiều lòng trắng trứng gà, bổ sung các chất khoáng cũng như vitamin. Khi đó lượng canxi của người mẹ được thai nhi hấp thụ rất nhiều, rất dễ bị thiếu. Nếu lượng canxi không đủ thì sau này đứa trẻ sinh ra rất dễ bị loãng xương, đau răng hoặc viêm lợi và bào thai cũng dễ bị gù lưng bẩm sinh. Trong quá trình dưỡng thai, bà bầu chú ý phải cung cấp lượng canxi vừa đủ.


Phụ nữ có bầu 5 - 6 tháng cũng rất dễ tạo ra bệnh thiếu máu, vì lượng máu và sắt cần cho bào thai sẽ tăng lên gấp đôi. Ngoài ra, toàn bộ cơ thể người mẹ lại thêm dịch vị nên cũng ảnh hưởng đến việc hấp thụ lượng sắt trong cơ thể. Thiếu sắt đối với phụ nữ bầu bí hay thai nhi đều rất nguy hiểm, làm cho bào thai sinh trưởng chậm…Vì thế, người mẹ có bầu cần hấp thụ một lượng sắt cần thiết.


 


Trong một số loại rau như: cải trắng, hồng tây, khoai tây, một số loại đậu chế biến đều chứa nhiều chất sắt, canxi và vitamin, đặc biệt ăn nhiều thịt nạc, thịt gia cầm, gan và tiết động vật cùng các loại trứng, hạt vừng, bột, trái cây… Các loại thực phẩm này có nhiều chất sắt, vitamin C, rất có lợi cho sự bổ sung chất sắt trong các bộ phân cơ thể người mẹ và bào thai. Chỉ cần trong khi sử dụng thức ăn, người mẹ có ý thức tăng cường hàm lượng chất sắt, canxi thì có thể dự phòng được bệnh thiếu các chất canxi, sắt.


Phụ nữ có bầu nên tránh ăn quá nhiều dầu béo, chất muối để tránh bệnh phù chân, cao huyết áp và các bệnh về tim mạch.


 


7. Tháng thứ bảy


- Tăng cường ăn đồ ăn nóng: Nói chung, thức ăn chủ yếu của thai phụ phải nóng, thực phẩm cần đa dạng, nhiều gạo, ngũ cốc… đậu đỏ, đậu xanh, một số loại hương liệu phối hợp. Nhưng liều lượng nên vừa đủ, tránh cho thai phị bị béo phì, thai nhi quá to.


- Ăn nhiều chất có chứa hàm lượng sắt nhiều. Sắt là chất thiết yếu cho mạch máu, các vật chất để ăn có hàm lượng sắt nhiều như: máu động vật, gan, thịt nạc, các loại cá, một số loại đậu, một số loại rau củ quả…


- Chú ý các chất như canxi, phốt pho, I-ốt, kẽm trong rong biển, tảo đỏ, sứa, đậu tương, đậu phụ, rau cải, mộc nhĩ đen, lạc, trứng gà, lòng đỏ trứng, xương đầu động vật, thịt nạc, gan động vật cùng các loại cá, tép moi, trai biển…


- Tăng cường các loại vitamin như A, B, B1, B2, C, E, D…


- Đảm bảo bồi dưỡng đủ lượng mỡ. Dầu động thực vật đều tích chứa hàm lượng mỡ rất phong phú. Thông thường, khi nấu ăn chủ yếu nên dùng dầu thực vật, như dầu đậu nành, dầu lạc, dầu vừng, dầu rau cải… cũng có thể dùng một phần nhỏ dầu động vật, cũng như trực tiếp ăn lạc, vừng…


- Tăng cường bổ sung thức ăn nhưng nên phù hợp. Phụ nữ có bầu mỗi ngày nên ăn từ 4 - 5 lần, nhưng mỗi lần ăn không được phép ăn quá no, giúp cho việc hấp thụ dinh dưỡng trong toàn bộ cơ thể dễ dàng hơn và bụng không phải mang theo lượng thực phẩm quá lớn gây mệt nhọc.


8 . Tháng thứ tám
- Nên ăn làm nhiều bữa và ăn với lượng vừa phải để giảm cảm giác dạ dày bị trướng đầy.


- Nếu mỗi tuần, thể trọng thai phụ tăng khoảng 500 gam thì nên ăn nhiều rau xanh và nên ngăn chặn ăn các đồ ngọt, chứa đường, mỡ để phòng bào thai quá to, gây khó khăn cho việc sinh nở.


- Chọn thực đơn có trị dinh dưỡng cao như: thực phẩm có nguyên do từ động vật, tránh ăn đậu nành, khoai hồng để phòng dạ dày bị chướng.


- Không nên lạm dụng chất bổ như: dầu gan cá, vitamin, nhân sâm…


Khẩu phần ăn mỗi ngày nên có các loại thức ăn sau: gạo, ngũ cốc và các lương thực khác; trứng các loại (gà, vịt, chim cút), thịt bò, những loại thịt khác và cá, gan động vật (mỗi tuần ăn một lần), các loại đậu, rau, trái cây, dầu chưng cất.


 


9. Tháng thứ chín
Lúc này, thai phụ nên ăn thêm nhiều dinh dưỡng, chất lượng tốt, vẫn lấy nguyên tắc mỗi lần ăn không cần ăn nhiều, nhưng ăn thành nhiều bữa. Mỗi ngày 5 bữa trở lên. Nên chọn loại thực phẩm có khối lượng nhỏ mà chất dinh dưỡng lại cao như những loại thực phẩm có nguồn gốc từ động vật, giảm hết mức những loại thực phẩm có khối lượng lớn, nhưng dinh dưỡng lại thấp như đậu nành…


- Lòng trắng trứng: Trong suốt quá trình có bầu đều cần làm tăng chất lòng trắng trứng, một vài chất này chủ yếu từ chế phẩm đậu, từ sữa, trứng và thịt.


- Không ăn nhiều muối: Cuối giai đoạn mang bầu dễ phát sinh các chứng bệnh cao huyết áp, do đó nên kìm hãm ăn muối. Phụ nữ có bầu nên chú ý ăn chất có sắt, lượng máu đủ để sinh nở và để tích chữ lượng sắt cho bào thai.


- Vitamin: Các vitamin chủ yếu từ ăn một số loại rau tươi xanh và trái cây. Vitamin A có thể tăng sức đề kháng bị nhiễm bệnh của người mẹ mang thai. Vitamin D có thể giúp cho quá trình hấp thụ canxi được dễ dàng hơn.


- Chú ý ăn nhiều các thức ăn thanh đạm: Dùng dầu thực vật để chế biến thức ăn, ăn ít các thực đơn chính, ăn nhiều các thực đơn phụ như rau, hoa quả, các chế phẩm sữa. Ăn uống thanh đạm là tiêu chuẩn cho người mẹ có bầu ở thời điểm cuối này.


- Phụ nữ mang bầu thời kỳ cuối này nên ăn nhiều, nhưng mỗi lần ăn không được phép no quá và ăn các thực phẩm có hàm lượng mỡ chua và chất kẽm như: hạt hồ đào, hướng dương, vừng đen, lạc; hàm lượng thức ăn có chất sắt, vitamin B2 như: những loại gan, lòng đỏ trứng, mộc nhĩ đen, cải tía, rong biển, chế phẩm từ đậu, cải xanh. Hàm lượng thức ăn có canxi cùng vitamin D như: sữa bột, gan, tôm, canh cá, canh đầu cá, các chế phẩm đậu phụ. Ăn nhiều sữa bột và hoa quả sẽ tốt cho da của cả người mẹ và trẻ nhỏ.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét